Phơi khô, rải vôi và các cách xử lý khác để tẩy trùng đáy ao

Viết ngày

Tóm tắt:

Cách truyền thống để diệt sinh vật ở đáy ao là phơi khô triệt để trong 1 đến 2 tuần hoặc lâu hơn. Sau khi phơi khô, ở các khu vực còn ẩm ướt hoặc còn nước có thể dùng chất diệt cá và rải vôi để diệt các loại cá tạp, ký sinh trùng, vi sinh vật gây bệnh và các vector mang mầm bệnh. Mục đích của cách xử lý rải vôi là để nâng pH lên 11 hoặc 12 nhằm diệt các sinh vật không mong muốn. Rải vôi và các cách khác không đạt hiệu quả vì thường xử lý không đủ hàm lượng.

Tiến sĩ Claude E. Boyd
Khoa Thủy sản và liên minh nuôi trồng thủy sản
Đại học Auburn – Auburn, Alabama 36849 USA

Trong ao nuôi trồng thủy sản, các nhà quản lý nên cố gắng phòng ngừa bệnh và các sinh vật không mong muốn khác đang sống ở đáy ao để trống giữa các vụ. Họ cũng nên làm mọi nỗ lực để ngăn ngừa các sinh vật không mong muốn xâm nhập khi các ao đã lấy nước đầy cho vụ nuôi tiếp theo. 

Hình: Phơi đáy ao giữa các vụ nuôi là bước đầu tiên trong tẩy trùng ao. Các vũng nước/ bùn nhão và khu vực ẩm ướt cần bón vôi hoặc áp dụng cách xử lý khác có hiệu quả để loại bỏ các sinh vật không mong muốn.

Phơi khô, hóa chất diệt tạp, bón vôi

Cách làm truyền thống để diệt các sinh vật ở các đáy ao là phơi khô triệt để trong 1 đến 2 tuần hoặc lâu hơn. Quy trình này hiệu quả ở các khu vực mà đáy ao được phơi khô hoàn toàn, nhưng không hiệu quả trong các ao mà mực nước ngầm gần bằng bề mặt đáy ao hoặc rò rỉ/ mọi nước từ các ao gần kề vì vẫn còn các vũng nước/ bùn nhão và khu vực ẩm ướt. Ngoài ra, trong những giai đoạn mưa, khả năng phơi đáy ao khô kỹ là không thể.

Cá tạp ở các vũng nước có thể diệt được bằng thuốc trừ sâu hoặc các chất diệt cá khác. Tuy nhiên, mối quan tâm lớn hơn là các ký loại ký sinh trùng, các sinh vật gây bệnh và các vector mang mầm bệnh có thể tồn tại trong các khu vực ẩm ướt/ có nước gây lây nhiễm sang vụ sau. Cách thông thường dùng để xử lý các khu vực ẩm ướt/ có nước hoặc đôi khi toàn bộ đáy ao là bằng vôi sống, canxi oxit; hoặc vôi chín, canxi hydroxit. Mục đích của cách xử lý vôi là để nâng pH lên 11 hoặc 12 nhằm diệt các sinh vật không mong muốn.

Các thực nghiệm trên những khoảnh đất nhỏ của các đáy ao trống đã cho thấy liều lượng vôi 100 g/m2 sẽ nâng pH đất lên khoảng 10 và một nghiên cứu thí nghiệm gần đây đã cho thấy liều lượng 300 – 500 g/m2 làm cho pH tăng lên 11. Một vài nhà quản lý ao sử dụng liều lượng vôi ngay cả cao hơn 100 g/m2 và trong nhiều trường hợp, rải vôi ở các khu vực ẩm ướt/ có nước hầu như không đạt được tác dụng mong đợi. Để đảm bảo pH cao đủ để diệt các sinh vật không mong muốn, mức xử lý nên ít nhất là 200 g/m2 đối với vôi sống và 300 g/m2 đối với vôi chín. Sau khi sử dụng, vôi biến đổi thành đất carbonate nhờ phản ứng với carbon dioxit và pH giảm xuống 8,5 hoặc thấp hơn nữa trong vài ngày.

Calcium Hypochlorite

Một sự lựa chọn để tẩy trùng các khu vực ẩm ướt/ có nước là dùng calcium hypochlorite, cũng được biết tới là high-test hypochlorite (HTH). Liều lượng xử lý thường là 25-50 g/m2, nhưng các nghiên cứu thí nghiệm đề xuất liều lượng cần cao hơn gấp 3 hoặc 4 lần để làm giảm sự thừa thãi của vi khuẩn trong đất ướt.

Nước cho vào ao thường được giữ ở các ao lắng trong nhiều ngày trước khi đưa vào ao nuôi. Cách làm này có thể loại bỏ phần tử virút tự do, nhưng không phải các vector mang mầm bệnh của chúng. Lọc nước qua các lưới lọc mắt mịn giúp loại bỏ cá và tôm hoang dã, vi giáp xác và các vector mang  mầm bệnh thông thường khác, nhưng các sinh vật nhỏ hơn vẫn đi qua lưới lọc. Chất diệt khuẩn có thể đưa vào các ao lắng hoặc các ao nuôi thay cho quá trình lọc, hoặc đều có thể sử dụng cả 2 cách xử lý này.

Có thể sử dụng calcium hypochlorite để tẩy trùng nước trước khi đưa vào ao nuôi. Khả năng tẩy trùng của cách xử lý bằng HTH tùy vào tỉ lệ axit hypochlorit : ion hypochlorite, tỉ lệ này giảm khi pH tăng. Liều lượng HTH cần thiết để cung cấp 1 mg/L axit hypochlorit ở các giá trị pH khác nhau được thể hiện ở Hình 1.

Nước dùng cho các ao nuôi trồng thủy sản thường có pH trong khoảng 8 và các nghiên cứu đã cho thấy để tẩy trùng có hiệu quả thường dùng hàm lượng HTH là 20 – 30 mg/L. Do vậy, tẩy trùng nước ao bằng HTH thì khá đắt.

Hàm lượng axit hypochlorit : ion hypochlorite giảm nhanh – thường trong vòng vài ngày sau khi xử lý. Hợp chất chlorine biến đổi thành ion chloride không độc qua các phản ứng với các chất hữu cơ và tác dụng của ánh nắng.

Khí Chlorin

Do chi phí sử dụng HTH cao nên một số trang trại sử dụng khí chlorine làm chất tẩy trùng. Ở pH nước trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản, khí chlorin biến đổi thành axit hypochlorit và các ion hypochlorite.

Chlorine là khí rất độc, việc vận chuyển và sử dụng các thùng chlorine đầy nguy hiểm. Phần lớn các tai nạn gây chết người là do vận chuyển khí chlorine dùng cho các mục đích công nghiệp. Việc sử dụng nó trong các cơ sở nuôi trồng thủy sản là không được khuyến nghị.

Các loại thuốc trừ sâu

Thường kể đến như DDVP, dichlorovos là thuốc trừ sâu organophosphorus với tên hóa học 2,2-dichlorovinyl dimethyl phosphate. Hợp chất này mang đến một sự thay thế rẻ hơn so với HTH dùng tẩy trùng nước trong các ao nuôi trồng thủy sản. Loại thuốc này có tác dụng ở mức hàm lượng thấp hơn nhiều HTH với liều lượng dùng là 1-3 mg/L hiệu quả trong tiêu diệt các vector mang mầm bệnh.

Do DDVP là một loại thuốc trừ sâu nên việc sử dụng nó trong nuôi trồng thủy sản có chiều hướng báo động đến các nhà môi trường và những người khác. Tuy nhiên, hàm lượng DDVP giảm xuống đến mức không thể phát hiện thấy trong nước sau khi dùng khoảng 3 hoặc 4 tuần. Trong thực tế, DDVP là hợp chất an toàn hơn HTH trong việc tẩy trùng nước ao.

DDVP thường được tiếp thị ở Châu Á là pondvos hoặc là thuốc trừ sâu dùng cho các ao nuôi tôm. Thuốc trừ sâu này được sử dụng ở các ao lắng trước khi nước được chuyển vào nuôi hoặc các ao đã xử lý sau khi đã lấy nước đầy nhưng trước khi thả tôm. Trong các ao nuôi tôm, qua nhiều tháng giữa đợt xử lý bằng DDVP và thu hoạch, không có khả năng nhiễm thuốc trừ sâu DDVP trên tôm đã thu hoạch từ các ao trước đó được xử lý với hợp chất này.

Cân nhắc mức độ độc hại

Hóa chất diệt cá, vôi, HTH và DDVP có thể độc đối với các sinh vật thủy sinh nếu tình cờ đổ thẳng vào nước tự nhiên, vì thế các loại này nên được bảo quản và sử dụng một cách có trách nhiệm. Hóa chất diệt cá không đặc biệt độc với con người, nhưng công nhân nên đề phòng để giảm thiểu tiếp xúc với những loại chất này. Vôi là chất ăn da và có thể làm bỏng da, gây nên các tổn thương nghiêm trọng cho mắt – thậm chí mù vĩnh viễn.

Công nhân nên mặc quần áo bảo hộ kể cả kính bảo vệ mắt và găng tay. Công nhân cũng nên được trang bị thêm các dụng cụ bảo vệ hô hấp để tránh hít phải HTH và DDVP. Không bao giờ nên cho thẳng HTH vào nước có tính axít cao với pH dưới 4, bởi vì có thể sinh ra khí chlorine. Tuy nhiên, có thể sử dụng vôi, HTH và DDVP một cách an toàn nếu thực hiện đúng các biện pháp đề phòng.

Quá trình chuẩn bị ao sau khi tẩy trùng

Phơi đất đáy ao, tẩy trùng đáy ao và nước bằng hóa chất tiêu diệt các sinh vật không mong muốn và mong muốn theo cùng một cách. Sau khi phơi khô và xử lý hóa chất, các sinh vật đáy và sinh vật phù du chỉ còn ở mức thấp.

Không nên thả tôm bột và cá giống cho đến khi quần xã sinh vật thức ăn tự nhiên đã hình thành. Quá trình bón phân đáy ao bằng chất hữu cơ cần làm ngay trước khi cho nước vào, áp dụng bón phân urê và triplesuperphosphate vào nước trong và sau khi cho nước vào – nhưng trước khi thả tôm – giúp thúc đẩy sự phát triển của sinh vật đáy và sinh vật phù du.

Hình 1. Hàm lượng calcium hypochlorite cần thiết để cung cấp 1 mg/L axit hypochlorite ở các giá trị pH khác nhau.

Bài viết này được dịch bởi Phòng Kỹ Thuật Công ty TNHH Công Nghệ Sinh Học A.T.C

Nguồn: Theo Advocate – Tạp chí thủy sản nuôi toàn cầu tháng 11-12/2012

Gửi phản hồi

*